CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO CÂN BẰNG LINH HOẠT (HEDGING) VỀ NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO CỦA CÁC QUỐC GIA ASEAN TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI NĂNG LƯỢNG TOÀN CẦU

IPIIS USSH
26.07.26 08:56 AM - Comment(s)

Bối cảnh chuyện đổi năng lượng toàn cầu là xu thế chung ở thế kỷ XXI, với mục tiêu đảm bảo an ninh năng lượng và giảm phát thải carbon để giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Sự chuyển dịch từ dạng năng lượng truyền thống như năng lượng sinh khối (biomass), năng lượng hóa thạch (khí đốt, dầu mỏ,...) sang các dạng năng lượng tái tạo như năng lượng gió, mặt trời, thủy triều, sóng, địa nhiệt,...

Đối với ASEAN, khu vực đang có tốc độ tăng trưởng năng động với nhu cầu năng lượng sơ cấp lên tới 550 triệu tấn/năm, việc bảo đảm năng lượng đáng tin cậy gắn liền mật thiết với tăng trưởng kinh tế, hoạt động sản xuất, chuỗi cung ứng, an ninh lương thực và cả sinh kế của hơn 600 triệu dân. Chuyển đổi năng lượng toàn cầu vừa tạo ra thách thức sống còn, vừa mang lại cơ hội bứt phá chiến lược đối với các quốc gia ASEAN. Tuy nhiên, chuyển đổi năng lượng không chỉ đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật hay môi trường, mà đã trở thành bàn cờ địa chính trị năng lượng. Các quốc gia ASEAN đứng trước sức ép duy trì an ninh năng lượng đồng thời phải đảm bảo tự chủ chiến lược. Trước bối cảnh đó, các quốc gia ASEAN buộc phải nghiên cứu và áp dụng chiến lược ngoại giao giúp thích ứng với sự chuyển đổi và sự phụ thuộc vào các nước lớn. 
Trong bài viết này, tác giả sử dụng định nghĩa năng lượng tái tạo hay năng lượng tái sinh là năng lượng từ những nguồn liên tục mà theo chuẩn mực của con người là vô hạn như năng lượng mặt trời, gió, mưa, thủy triều, sóng và địa nhiệt. Năng lượng tái tạo, thường được gọi là năng lượng sạch, là nguồn năng lượng tự nhiên liên tục được bổ sung, tái sử dụng vô hạn, là nguồn năng lượng rất lớn, nhiều đến mức không thể cạn kiệt.

Nguồn: https://cafef.vn/the-asean-post-ky-luc-nang-luong-tai-tao-cua-viet-nam-la-co-hoi-vang-cho-cac-nuoc-asean-khac-20210412084718013.chn

1. Ngoại giao cân bằng linh hoạt (Hedging) và vai trò của JEPT 
Thuật ngữ “Hedging” (Tạm dịch: Ngoại giao cân bằng linh hoạt) được đưa vào nghiên cứu quan hệ quốc tế từ thập niên 1990, dùng để chỉ chiến lược nằm giữa cân bằng (balancing) và theo phe (bandwagoning), kết hợp giữa gắn kết có chọn lọc, kháng cự hạn chế và nhượng bộ một phần (Lake, 1996; Green, 1999; Johnston & Ross, 1999; Medeiros, 2005; Goh, 2005; Kuik, 2008, 2020). Khái niệm này được mượn từ tài chính, trong đó ngoại giao cân bằng là cách thức phân tán và cân bằng rủi ro thông qua đa dạng hóa vị thế. Trong quan hệ quốc tế, chiến lược này thể hiện ở việc các quốc gia duy trì quan hệ đồng thời với nhiều cường quốc thay vì nghiêng hẳn về một phía. Với ASEAN, ngoại giao cân bằng được thể hiện qua việc duy trì quan hệ với Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ và EU; thúc đẩy các cơ chế đối thoại đa phương, không loại trừ các đối tác và hạn chế ngôn ngữ đối đầu. Cách tiếp cận này giúp ASEAN giảm thiểu rủi ro chiến lược, mở rộng lợi ích kinh tế – phát triển và duy trì vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực.. 

Nguồn: https://www.ceew.in/gfc/quick-reads/infographic/how-many-jetps-are-announced-so-far-and-where-are-they-located

Trong chiến lược Hedging, quốc gia không lựa chọn nghiêng hẳn về một cường quốc mà đa dạng hóa quan hệ và duy trì hợp tác với nhiều đối tác để phân tán rủi ro, đồng thời tối đa hóa lợi ích. JETP là một ví dụ cho cách tiếp cận này trong lĩnh vực chuyển dịch năng lượng. Thông qua JETP, Việt Nam và Indonesia huy động nguồn lực từ nhiều đối tác quốc tế, trong đó có Mỹ, Nhật Bản và các nước châu Âu, nhằm hỗ trợ giảm phụ thuộc vào than và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng. Just Energy Transition Partnership (JETP - Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Công bằng) là cơ chế hợp tác giữa các quốc gia đang phát triển và nhóm đối tác quốc tế nhằm huy động tài chính, công nghệ và hỗ trợ chính sách cho quá trình chuyển dịch năng lượng, đặc biệt là giảm phụ thuộc vào than và thúc đẩy chuyển dịch công bằng. Trong ASEAN, Indonesia và Việt Nam lần lượt thiết lập JETP với Nhóm Đối tác Quốc tế (IPG) vào năm 2022, với các cam kết tài chính ban đầu lần lượt là 20 tỷ USD và 15 tỷ USD. Các thỏa thuận này huy động sự tham gia của nhiều đối tác, trong đó có Mỹ, Nhật Bản, các nước châu Âu và các tổ chức tài chính quốc tế.

JETP không chỉ là một cơ chế tài chính cho chuyển dịch năng lượng mà còn tạo ra một không gian hợp tác đa đối tác, cho phép Việt Nam và Indonesia tiếp nhận nguồn lực từ nhiều bên mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào một quốc gia riêng lẻ. Việc cùng lúc duy trì hợp tác với Mỹ, Nhật Bản và các nước châu Âu thông qua JETP cho thấy cách tiếp cận đa dạng hóa đối tác trong một lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược như năng lượng.  Do đó, JETP có thể được xem là một biểu hiện cụ thể của ngoại giao cân bằng trong lĩnh vực chuyển dịch năng lượng: thông qua việc duy trì và đa dạng hóa quan hệ với nhiều đối tác, các quốc gia ASEAN có thể mở rộng nguồn lực cho phát triển và giảm rủi ro từ việc phụ thuộc vào một đối tác duy nhất.

Các đối tác cam kết huy động nguồn lực ban đầu 15,5 tỷ USD trong vòng 3 đến 5 năm tới để giải quyết nhu cầu cấp bách, mang tính xúc tác cho chuyển đổi năng lượng công bằng của Việt Nam - Ảnh: VGP/Nhật Bắc (Nguồn:https://baochinhphu.vn/cac-doi-tac-cam-ket-ho-tro-viet-nam-155-ty-usd-de-chuyen-doi-nang-luong-102231201231325871.htm)

2. Ngoại giao cân bằng và đa dạng hóa đối tác trong chuyển dịch năng lượng qua trường hợp Việt Nam và Indonesia

2.1. Việt Nam: Đa dạng hóa đối tác trong phát triển năng lượng tái tạo 

Việt Nam là một trường hợp tiêu biểu cho việc sử dụng hợp tác quốc tế để thúc đẩy chuyển đổi năng lượng, đồng thời duy trì khả năng chủ động trong hoạch định chính sách năng lượng. Tháng 12/2022, Việt Nam và Nhóm Đối tác quốc tế (International Partners Group - IPG) thiết lập Quan hệ Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Công bằng (JETP). Theo Tuyên bố chính trị, các đối tác cam kết huy động ban đầu ít nhất 15,5 tỷ USD trong vòng 3-5 năm, bao gồm 7,75 tỷ USD từ nguồn tài chính công của IPG và ít nhất 7,75 tỷ USD tài chính tư nhân được huy động thông qua Liên minh Tài chính Glasgow vì Mức phát thải ròng bằng 0  (Glasgow Financial Alliance for Net Zero - GFANZ). IPG gồm Liên minh châu Âu, Vương quốc Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ, Italy, Canada, Nhật Bản, Na Uy và Đan Mạch. 

JETP của Việt Nam hướng tới đồng thời nhiều mục tiêu: giảm phát thải của ngành điện, hạn chế sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, phát triển năng lượng tái tạo và huy động nguồn lực cho quá trình chuyển đổi năng lượng. Tuyên bố JETP đặt mục tiêu nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo lên ít nhất 47% vào năm 2030, đồng thời giới hạn công suất điện than ở mức 30,2 GW và đưa phát thải cao nhất của ngành điện xuống 170 triệu tấn CO₂ tương đương Kế hoạch huy động nguồn lực cũng tập trung vào các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, hệ thống lưu trữ năng lượng, lưới điện và phát triển công nghiệp năng lượng tái tạo. 

Thay vì chỉ dựa vào một nguồn vốn hoặc một đối tác quốc tế, Việt Nam tiếp cận đồng thời nguồn tài chính công, tài chính tư nhân, hỗ trợ kỹ thuật và công nghệ từ nhiều đối tác. Kế hoạch huy động nguồn lực JETP được thiết kế với sự tham gia của nhiều chính phủ, tổ chức tài chính và doanh nghiệp quốc tế, trong đó nguồn vốn công được kỳ vọng đóng vai trò xúc tác để huy động thêm đầu tư tư nhân. Cách tiếp cận này mở rộng các lựa chọn của Việt Nam trong quá trình phát triển năng lượng tái tạo và giảm rủi ro phụ thuộc vào một nguồn lực duy nhất. 

Ảnh: Lễ ký kết hợp tác JETP tại Indonesia. Nguồn: https://solarpump.vn/jetp-la-gi-just-energy-transition-partnership-la-gi/

2.2. Indonesia: Cân bằng chuyển đổi năng lượng tái tạo và lợi ích than 

Khác với Việt Nam, trường hợp Indonesia thể hiện rõ hơn khía cạnh cân bằng giữa chuyển đổi năng lượng tái tạo và lợi ích của hệ thống năng lượng than. Indonesia và các đối tác quốc tế công bố JETP tại Hội nghị Cấp cao G20 ở Bali năm 2022, với quy mô tài chính ban đầu 20 tỷ USD. JETP Indonesia được xây dựng nhằm hỗ trợ quá trình chuyển đổi của ngành điện, tăng tốc phát triển năng lượng tái tạo và giảm phát thải, đồng thời thực hiện quá trình chuyển dịch khỏi than theo hướng công bằng và có kiểm soát.

Sự đặc thù của Indonesia nằm ở vị trí quan trọng của than trong hệ thống năng lượng và nền kinh tế. Vì vậy, quá trình chuyển đổi năng lượng của nước này không thể chỉ được nhìn nhận như sự thay thế trực tiếp giữa nhiên liệu hóa thạch và năng lượng tái tạo. Kế hoạch Đầu tư và Chính sách Toàn diện (Comprehensive Investment and Policy Plan - CIPP), là văn kiện nền tảng cho triển khai JETP Indonesia - xác định quá trình chuyển đổi từ than sang năng lượng sạch cần được quản lý, trong đó việc huy động lượng vốn lớn là điều kiện quan trọng để thực hiện các chương trình chuyển đổi. CIPP đồng thời dự kiến công suất điện than trên lưới vẫn tăng trong giai đoạn đầu, đạt đỉnh trước khi giảm dần từ khoảng năm 2030; từ năm 2035, số lượng nhà máy điện nhiên liệu hóa thạch nghỉ hưu sẽ tăng lên. 
Indonesia không lựa chọn một lộ trình chuyển đổi tức thời mà duy trì tính linh hoạt về thời gian và phương thức chuyển đổi. Một mặt, Indonesia sử dụng JETP để huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển năng lượng tái tạo, nâng cấp lưới điện và đẩy nhanh quá trình nghỉ hưu các nhà máy than. Mặt khác, nước này vẫn phải quản lý những lợi ích kinh tế và yêu cầu an ninh năng lượng gắn với hệ thống than hiện hữu. CIPP thậm chí xác định “lộ trình loại bỏ than đá có quản lý”, là một trong những lĩnh vực đầu tư trọng tâm của JETP. 
Indonesia có thể được xem là trường hợp tập trung vào việc dung hòa, cân bằng giữa các mục tiêu hoặc lợi ích có khả năng xung đột/đối lập nhau. Nếu Việt Nam nổi bật ở việc đa dạng hóa nguồn vốn, công nghệ và đối tác, Indonesia thể hiện rõ hơn việc cân bằng giữa các mục tiêu có khả năng xung đột: phát triển năng lượng tái tạo, giảm phát thải, bảo đảm an ninh năng lượng và quản lý những lợi ích kinh tế gắn với than. Chiến lược này cho phép Indonesia tránh phải lựa chọn ngay lập tức giữa than và năng lượng tái tạo, mà duy trì một quá trình chuyển tiếp theo từng giai đoạn. 
Vì vậy, trường hợp Indonesia cho thấy chiến lược Ngoại giao cân bằng linh hoạt không chỉ được thực hiện thông qua việc đa dạng hóa quan hệ với các đối tác quốc tế mà còn thông qua duy trì nhiều lựa chọn chính sách trong nước, đặc biệt là về tốc độ chuyển đổi từ than sang năng lượng tái tạo.

Các Bộ trưởng Năng lượng ASEAN và lãnh đạo các tổ chức hợp tác năng lượng ASEAN tại AMEM 43. (Nguồn ảnh: https://moit.gov.vn/tin-tuc/thu-truong-nguyen-hoang-long-tham-du-hoi-nghi-bo-truong-nang-luong-asean-lan-thu-43-va-cac-hoi-nghi-lien-quan.html)

3. Cơ hội và thách thức với các quốc gia ASEAN

Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, ngoại giao cân bằng linh hoạt tạo cho các quốc gia ASEAN cơ hội khai thác đồng thời nguồn vốn, công nghệ và thị trường từ nhiều đối tác bên ngoài thay vì phụ thuộc vào một cường quốc duy nhất. Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng của ASEAN tiếp tục gia tăng, chuyển đổi sang năng lượng tái tạo có thể vừa giúp các quốc gia đa dạng hóa nguồn cung, tăng cường an ninh năng lượng, vừa mở rộng không gian hợp tác với Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và EU. Theo 8th ASEAN Energy Outlook (Báo cáo Triển vọng Năng lượng ASEAN lần thứ 8), tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp của ASEAN mới đạt 15,6% năm 2022, trong khi mục tiêu khu vực là 23%. Do đó, nhu cầu về vốn, công nghệ và hợp tác quốc tế vẫn rất lớn.
Tuy nhiên, chiến lược này cũng đặt ra những thách thức đáng kể. Các quốc gia ASEAN vẫn cần một lượng vốn đầu tư rất lớn cho chuyển đổi năng lượng: Trung tâm năng lượng ASEAN (ACE) ước tính khu vực có thể cần khoảng 3,7–6,7 nghìn tỷ USD đến năm 2050 tùy theo kịch bản chuyển đổi. Thị trường năng lượng tái tạo giữa các nước ASEAN còn phân mảnh về thể chế, quy định đầu tư và cơ chế giá điện, trong khi rủi ro đầu tư cao có thể làm hạn chế dòng vốn tư nhân. Việc dựa vào nhiều đối tác cũng tạo ra rủi ro về sự gián đoạn hoặc thay đổi cam kết của đối tác. Chẳng hạn, trường hợp Hoa Kỳ rút khỏi JETP đối với Indonesia và Việt Nam năm 2025 cho thấy nguồn lực bên ngoài có thể thay đổi theo ưu tiên 
chính sách của từng chính phủ, buộc các nước tiếp nhận phải tìm kiếm nguồn tài chính thay thế. 
Trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, sự khác biệt về mức độ phụ thuộc và lựa chọn đối tác của các quốc gia ASEAN thể hiện rõ đặc điểm đa dạng hóa quan hệ của chiến lược ngoại giao cân bằng. Trong khi một số quốc gia tăng cường hợp tác với Trung Quốc về vốn và công nghệ, các quốc gia khác tìm kiếm nguồn lực từ Nhật Bản, Hàn Quốc, EU hoặc Hoa Kỳ. Cách tiếp cận này giúp từng quốc gia phân tán rủi ro và mở rộng không gian lựa chọn, nhưng đồng thời có thể dẫn đến sự khác biệt về tiêu chuẩn công nghệ, cơ chế tài chính và định hướng chính sách năng lượng. Vì vậy, thách thức đối với ASEAN không nằm ở việc lựa chọn một đối tác chung, mà ở khả năng điều phối các quan hệ đối tác khác nhau thông qua các cơ chế khu vực, qua đó duy trì khả năng tự chủ và vai trò trung tâm của ASEAN trong chuyển dịch năng lượng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. https://tapchicongthuong.vn/magazine/e-magazine-1--chuyen-dich-nang-luong--tu-qua-khu-den-tuong-lai-515599.htm

  2. TS Hoàng Thị Tuấn Oanh, Ths Hoàng Thanh Tâm. Các mô hình của các nước tầm trung và nước nhỏ ứng phó cạnh tranh nước lớn. <https://lyluanchinhtri.vn/cac-mo-hinh-cua-cac-nuoc-tam-trung-va-nuoc-nho-ung-pho-canh-tranh-nuoc-lon-13733.html>

  3. Kuik, C.-C. (2021). Getting hedging right: A small-state perspective. China International Strategy Review, 3, 300–315 

  4. TS. Nguyễn Thu Hà (30/3/2026). Asean trong bối cảnh phân cực toàn cầu: Từ trung lập truyền thống đến trung lập chọn lọc. Thông tin Khoa học chính trị. <http://khoahocchinhtri.hcma.vn/Content/asean-trong-boi-canh-phan-cuc-toan-cau-tu-trung-lap-truyen-thong-den-trung-lap-chon-loc-84010>

  5. Từ điển Britannica, Biofuel, https://www.britannica.com/technology/biofuel

  6. Phong Sơn (10/6/2026). ASEAN và vấn đề an ninh năng lượng trong bối cảnh mới. Petro Times - Tạp chí hội Dầu khí Việt Nam <https://petrotimes.vn/asean-va-van-de-an-ninh-nang-luong-trong-boi-canh-moi-742121.html>

  7. Tim Cocks và cộng sự. 7/3/2025. US withdraws from plan to help major global polluters move from coal. Reuters. <https://www.reuters.com/sustainability/climate-energy/us-withdrawing-plan-help-major-polluters-move-coal-sources-2025-03-05/>

  8. UK Government, Political Declaration on Establishing the Just Energy Transition Partnership with Viet Nam, 14/12/2022,<https://www.gov.uk/government/publications/vietnams-just-energy-transition-partnership-political-declaration/political-declaration-on-establishing-the-just-energy-transition-partnership-with-viet-nam>

  9.  European External Action Service (EEAS), Launch of the Resource Mobilisation Plan for the Just Energy Transition Partnership with Viet Nam, 1/12/2023. <https://www.eeas.europa.eu/jetp-rmp-launch_en>

  10.  European External Action Service (EEAS), Launch of the Resource Mobilisation Plan for the Just Energy Transition Partnership with Viet Nam, 1/12/2023. <https://www.eeas.europa.eu/jetp-rmp-launch_en>

  11.  Government of Indonesia & International Partners Group, Comprehensive Investment and Policy Plan (CIPP), 2023, <https://pathways.rmi.org/pathway/JETP-CIPP-2023>

  12.  ASEAN Centre for Energy (ACE), The 8th ASEAN Energy Outlook, 2024. <https://aseanenergy.org/publications/the-8th-asean-energy-outlook/>

  13.  ASEAN Centre for Energy (ACE), ASEAN Capacity Building Roadmap on Energy Investment 2025, 2025. <https://aseanenergy.org/publications/asean-capacity-building-roadmap-on-energy-investment-2025>

  14.  ASEAN Centre for Energy (ACE), Accelerating Clean Energy Investment in ASEAN: Policy Options, 2024. <https://aseanenergy.org/publications/accelerating-clean-energy-investment-in-asean-policy-options/>

  15.  Zainab Malaika. ASEAN Needs a Hedging Code, Not Just Hedging Instincts. Modern Diplomacy, 9 July 2026. <https://moderndiplomacy.eu/2026/07/09/asean-needs-a-hedging-code-not-just-hedging-instincts/>

IPIIS USSH